Trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, hình phạt “cải tạo không giam giữ” là một trong những chế tài thể hiện rõ quan điểm nhân đạo, giáo dục và phòng ngừa chung của Nhà nước ta đối với người phạm tội. Khác với hình phạt tù vốn mang tính cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội, cải tạo không giam giữ cho phép người bị kết án tiếp tục lao động, sinh sống và cải tạo ngay tại cộng đồng, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Bài viết này trình bày khái niệm, nội dung pháp lý và các quy định liên quan đến hình phạt cải tạo không giam giữ theo Bộ luật Hình sự và Luật Thi hành án hình sự hiện hành.
1. Khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ
Căn cứ Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cải tạo không giam giữ thuộc một trong những hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội.
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội, mà cho phép họ được tiếp tục sinh sống, làm việc hoặc học tập tại cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Hình phạt này thể hiện chính sách hình sự theo hướng không nhất thiết phải tước tự do đối với người phạm tội khi tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của người phạm tội cho phép áp dụng biện pháp cải tạo tại cộng đồng.
Việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện để người phạm tội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm mà không phải cách ly khỏi môi trường xã hội, đồng thời phát huy vai trò của gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong quá trình giám sát, giáo dục. Đây là hình phạt có tính chất nghiêm khắc thấp hơn hình phạt tù nhưng vẫn thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và đặt ra yêu cầu đối với người bị kết án phải cải tạo, giáo dục để trở thành người có ích cho xã hội.
2. Quy định pháp luật hình sự về hình phạt cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, được quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
Điều 36. Cải tạo không giam giữ
1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.
4. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Theo đó, điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là:
– Đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;
– Người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi xã hội.
Trong trường hợp người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam, thời gian này sẽ được trừ vào thời gian chấp hành án cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Nội dung chính của hình phạt này là buộc người phạm tội phải tự cải tạo dưới sự giám sát và giáo dục của cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập hoặc chính quyền địa phương nơi họ cư trú. Gia đình của người bị kết án cũng có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục.
Ngoài ra, trong thời gian chấp hành án, người chấp hành án phải chịu khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước, trừ các trường hợp đặc biệt được miễn khấu trừ hoặc không có việc làm. Trong trường hợp không có việc làm hoặc bị mất việc làm, họ có thể phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng, với thời gian không quá 04 giờ/ngày và không quá 05 ngày/tuần.
Ngoài ra, tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 có hiệu đính thông tin như sau: “d) Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 3 Điều 36″.
Như vậy, hình phạt cải tạo không giam giữ là một công cụ quan trọng trong chính sách hình sự của Việt Nam, thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo, tạo điều kiện cho người phạm tội được sửa chữa lỗi lầm ngay tại cộng đồng.
3. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
Các nghĩa vụ của người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định rõ tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự năm 2019:
Điều 99. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 97 của Luật này.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.
3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.
4. Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc.
5. Chấp hành quy định tại Điều 100 của Luật này.
6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
7. Hằng tháng phải nộp bản tự nhận xét về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 100 của Luật này.
Theo đó người chấp hành án có trách nhiệm:
– Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời cam kết chấp hành án theo đúng quy định pháp luật;
– Tích cực học tập, lao động;
– Nghiêm chỉnh chấp hành cam kết về việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ các quy chế, nội quy tại nơi làm việc, cư trú, nghĩa vụ công dân;
– Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án;
– Thực hiện nghĩa vụ nộp khoản thu nhập bị khấu trừ (nếu có) và tham gia lao động phục vụ cộng đồng theo luật định;
– Chịu sự giáo dục, giám sát của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ giáo dục, giám sát, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tại nơi làm việc, nơi cư trú;
– Chấp hành đúng quy định về giải quyết việc thay đổi hoặc vắng mặt tại nơi cư trú/nơi làm việc;
– Có mặt theo yêu cầu của các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục trong quá trình chấp hành án;
– Định kỳ hằng tháng, người chấp hành án phải nộp bản tự nhận xét về việc thực hiện các nghĩa vụ chấp hành án cho cơ quan, đơn vị được giao giám sát, giáo dục.
Ngoài ra, theo khoản 3, khoản 4 Điều 36 Bộ Luật Hình sự 2015, người thi hành án cải tạo không giam giữ còn cần tuân thủ quy định sau:
– Bị khấu trừ từ 5% – 20% thu nhập hằng tháng để sung vào ngân sách nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể quyết định miễn khấu trừ thu nhập nhưng phải nêu rõ lý do trong bản án.
– Nếu người bị phạt cải tạo không giam giữ không bị mất việc làm hoặc không có việc làm trong thời gian chấp hành án thì phải tham gia thực hiện một số hoạt động lao động phục vụ cộng đồng. Trong đó:
+ Thời gian lao động phục vụ cộng đồng: Không quá 4 giờ/ngày và không quá 5 ngày/tuần.
+ Đối tượng không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng: Người mắc bệnh hiểm nghèo, người già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 6 tháng tuổi, người khuyết tật nặng/đặc biệt nặng.
Trên đây là quy định pháp luật về Hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định pháp luật hình sự
Quý khách hàng quan tâm vui lòng liên hệ:
Phone: 0966.871.495
Email: luatquangsang@gmail.com
