Pháp luật đặt ra vấn đề cấp dưỡng sau ly hôn nhằm bảo đảm trách nhiệm giữa các thành viên gia đình trong những trường hợp pháp luật quy định, dù quan hệ hôn nhân đã chấm dứt. Trên thực tế, nghĩa vụ cấp dưỡng lại không phải lúc nào cũng được thực hiện đầy đủ. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người được cấp dưỡng mà còn đặt ra cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ cấp dưỡng trên thực tế. Bài viết dưới đây sẽ phân tích những vấn đề pháp lý về nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn, từ căn cứ phát sinh nghĩa vụ, chủ thể có nghĩa vụ, mức và phương thức cấp dưỡng đến cơ chế yêu cầu và xử lý trường hợp không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, qua đó làm rõ hơn trách nhiệm cấp dưỡng sau ly hôn.
1. Sau khi ly hôn, ai có nghĩa vụ cấp dưỡng?
Theo định nghĩa tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”.
Theo đó, cấp dưỡng chỉ xảy ra khi có các điều kiện sau đây:
– Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên, đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn;
– Người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
– Những người này không sống cùng nhau.
Do đó, khi ly hôn, những người sau đây sẽ xảy ra quan hệ cấp dưỡng:
– Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con thành niên không có tài sản tự nuôi mình, không có khả năng lao động có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đặc biệt, dù cha, mẹ có bị hạn chế quyền với con chưa thành niên thì vẫn phải cấp dưỡng cho con (theo khoản 2 Điều 82 và khoản 3 Điều 87 Luật Hôn nhân và Gia đình).
– Vợ, chồng sau khi ly hôn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đối phương nếu một bên khó khăn, túng quẫn, có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng (theo Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình).
2. Mức cấp dưỡng bao nhiêu/tháng? Phương thức cấp dưỡng bằng cách nào?
Mức cấp dưỡng được quy định cụ thể tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo đó, mức cấp dưỡng sẽ do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng cũng như nhu cầu thiết yếu của người con. Tòa án chỉ giải quyết khi các bên không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được.
Đặc biệt, theo Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, mức cấp dưỡng sẽ do các bên thỏa thuận gồm toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con. Nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định. Mức tối thiểu do Tòa án quy định sẽ không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng đang cư trú mỗi tháng với mỗi người con. Trong đó, mức lương tối thiểu vùng đang được quy định tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Do đó, mức cấp dưỡng tối thiểu của các vùng như sau: Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng; Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng; Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng; Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình khẳng định: Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phương thức cấp dưỡng, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, việc cấp dưỡng có thể thực hiện hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên cũng có thể thỏa thuận về phương thức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Cha, mẹ sau khi ly hôn phải cấp dưỡng cho con đến khi nào?
Như phân tích ở trên, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi bản thân thì người không ở cùng con sau khi ly hôn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Trong đó, con chưa thành niên là con con chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, các trường hợp được chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nêu tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình gồm:
– Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
– Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết.
– Vợ hoặc chồng (gặp khó khăn, túng quẫn) sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác…
Như vậy, có thể thấy, sau khi ly hôn, cha mẹ có thể không phải cấp dưỡng cho con khi thuộc các trường hợp sau đây:
– Con đã đủ 18 tuổi hoặc đã có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình.
– Cha, mẹ hoặc con chết.
4. Chế tài xử phạt khi không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng?
Điểm a khoản 3 Điều 64 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định, người không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án sẽ bị phạt tiền từ 03-05 triệu đồng. Theo đó, nếu việc cấp dưỡng đã được quy định cụ thể tại bản án, quyết định ly hôn mà chồng hoặc vợ không thực hiện thì có thể bị phạt từ 03-05 triệu đồng.
Đồng thời, theo Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nếu từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng khiến con lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì có thể bị phạt đến 02 năm tù.
Xem thêm: KHÔNG CẤP DƯỠNG CHO CON BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
5. Phải làm gì khi người có nghĩa vụ không thực hiện cấp dưỡng sau ly hôn?
5.1. Yêu cầu thi hành án
Khi việc cấp dưỡng đã được quy định trong bản án, quyết định ly hôn mà người có nghĩa vụ không thực hiện thì người còn lại có thể thực hiện các biện pháp sau đây để “buộc” người kia phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Trình tự cơ bản gồm các bước sau:
– Nộp yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, kèm bản án hoặc quyết định của Tòa án. Việc yêu cầu nay có thể thực hiện trên môi trường số, nộp đơn trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện. Sau khi nhận yêu cầu, trong thời hạn 05 ngày làm việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án.
– Giai đoạn cho tự nguyện. Người phải thi hành án được cho 10 ngày để tự nguyện thi hành kể từ khi được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025). Hết thời hạn này mà họ vẫn không trả, Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, tức là làm rõ họ có lương, có tài khoản, có tài sản gì để thi hành.
– Khi người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện, cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế (theo khoản 2 Điều 76 Luật Thi hành án dân sự). Theo đó, việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
5.2. Khởi kiện
Nếu trong bản án, quyết định ly hôn không quy định cụ thể về việc cấp dưỡng vợ, chồng người trực tiếp nuôi con có quyền khởi kiện đòi tiền cấp dưỡng từ đối phương. Trong đó, thủ tục khởi kiện thực hiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
– Hồ sơ: Đơn khởi kiện, Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân, sổ hộ khẩu, quyết định hoặc bản án ly hôn, chứng cứ chứng minh thu nhập của người phải cấp dưỡng, giấy khai sinh của con.
– Tòa án giải quyết: Là Tòa án nhân dân cấp xã nơi người không thực hiện cấp dưỡng thường trú hoặc tạm trú.
– Thời gian giải quyết: Theo thủ tục chung, thời gian giải quyết có thể kéo dài đến 06 tháng hoặc hơn hoặc ít hơn tùy vào tính chất của vụ án có phức tạp không.
Trên đây là quy định pháp luật về Nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn
Quý khách hàng quan tâm vui lòng liên hệ:
Phone: 0966.871.495
Email: luatquangsang@gmail.com
